tiểu luận về nền văn minh trung quốc

Chinh phục luyện thi vào 10 môn Văn. Tổng hợp đầy đủ 4 chuyên đề trọng tâm cho chương trình ôn thi vào lớp 10. 100% xuất hiện trong các đề thi thật vào lớp 10: Tiếng Việt, Đọc - Hiểu văn bản, Nghị luận xã hội và Nghị luận văn học. Kiến thức được thiết kế logic Nền văn hóa Trung Quốc có nhiều nét tương đồng với một số quốc gia trong TPP như Việt Nam, Singapore, Malaysia, thậm chílà Peru và Nhật Bản. Nhờ tận dụng những nét tương đồng này mà hiện nay Trung Quốc đang là bạn hàng lớn của khá nhiều nước không chỉ trong TPP, ASEAN và nhiều liên kết kinh tế lớn khác. 2. Việc chuẩn bị mẫu bìa báo cáo, bìa luận văn hay bìa sổ khoa học, chỉn chu sẽ giúp các bạn tạo được thiện cảm với người xem, thể hiện thái độ làm việc nghiêm túc của người làm. Chính vì thế các bạn có thể cân nhắc lựa chọn những mẫu bìa Word được Taimienphi.vn chia sẻ dưới đây để áp dụng vào thực tiễn. Tải Word 2013, 2010, 2007 và Office 2003 Lừa Đảo Vay Tiền Online. Phân tích và làm rõ ý kiến sau “Bài thơ Tự tình II vừa nói lên bi kịch duyên phận vừa cho thấy khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc của Hồ Xuân Hương”. Nội dung chính Show Top 1 Tiểu luận Thành tựu của Văn Hóa Trung Hoa thời kỳ Trung đạiTop 2 Tiểu luận Thành tựu của Văn Hóa Trung Hoa thời kỳ Trung đại ppsTop 3 Tiểu luận VĂN HÓA KINH DOANH TRUNG QUỐC docx - Tài liệuTop 4 Tiểu Luận Về Văn Hóa Trung Quốc, Đề Tài Tìm Hiểu Về ... - 5 Đề tài Tìm hiểu về văn hóa Trung Quốc - Luận vănTop 6 Tiểu luận Đặc điểm và những thành tựu tiêu biểu trong lĩnh vực kiến trúc ...Top 7 văn hoá Trung Quốc trang 1 tải miễn phí từ tailieuXANHTop 8 Tiểu luận Thành tựu của văn hóa Trung Hoa thời trung đạiTop 9 PDF BÀI TIỂU LUẬN Thu Nguyễn - 10 Tiểu Luận Về Nền Văn Minh Trung Quốc - Tìm Văn Bản Top 1 Tiểu luận Thành tựu của Văn Hóa Trung Hoa thời kỳ Trung đại Tác giả - Nhận 173 lượt đánh giá Tóm tắt Tóm tắt nội dung tài liệuĐăng ký thành viên. • Help. •. • Ghi Nhớ? Chuyên mục. • Blogs. • Bài mới. • Kiến thức tự nhiên. • Kiến thức xã hội. • o Kiến thức văn học  Văn học phổ thông  Nghiên cứu văn học  Văn học thiếu nhi  Hỏi đáp Văn học o Kiến thức lịch sử  Lịch sử Việt Nam  Lịch sử Thế Giới  Khảo cổ học  Lịch sử phổ thông  Bàn luận lịch sử. Nhân vật lịch sử  o Kiến thức địa lý  Địa lý Việt Nam  Địa lý Thế Giới  Kiến thức du lịch  Địa lý phổ thông  Hỏi đáp Địa lý Kiến thức chuyê Khớp với kết quả tìm kiếm Trong thế giới cổ đại phương Đông xuất hiện bốn nền văn hóa lớn gồm Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ và Trung Hoa. Sự xuất hiện của bốn trung tâm văn hóa lớn và ... ... Top 2 Tiểu luận Thành tựu của Văn Hóa Trung Hoa thời kỳ Trung đại pps Tác giả - Nhận 193 lượt đánh giá Khớp với kết quả tìm kiếm Tài liệu về Tiểu luận Thành tựu của Văn Hóa Trung Hoa thời kỳ Trung đại pps - Tài liệu , Tieu luan Thanh tuu cua Van Hoa Trung Hoa thoi ky Trung dai pps ... ... Top 3 Tiểu luận VĂN HÓA KINH DOANH TRUNG QUỐC docx - Tài liệu Tác giả - Nhận 160 lượt đánh giá Khớp với kết quả tìm kiếm Tài liệu về Tiểu luận VĂN HÓA KINH DOANH TRUNG QUỐC docx - Tài liệu , Tieu luan VAN HOA KINH DOANH TRUNG QUOC docx - Tai lieu tại 123doc - Thư viện trực ... ... Top 4 Tiểu Luận Về Văn Hóa Trung Quốc, Đề Tài Tìm Hiểu Về ... - Tác giả - Nhận 142 lượt đánh giá Tóm tắt Đang xem Tiểu luận về văn hóa trung quốc đang nạp các trang xem trước . Phân tích và làm rõ ý kiến sau “Bài thơ Tự tình II vừa nói lên bi kịch duyên phận vừa cho thấy khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc của Hồ Xuân Hương” Tập làm văn Viết cảm tưởng hoặc kỷ niệm sâu sắc của bản thân, gia đình về người chiến sỹ Quân khu 7, về mối quan hệ đoàn kết gắn bó giữa lực lượng vũ trang Quân khu 7 với nhân dân và trách nhiệm của bản thân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ Khớp với kết quả tìm kiếm Suốt 5000 năm tồn tại và phát triển, văn minh Trung Quốc không chỉ có ảnh hưởng đến các dân tộc Châu Á, mà còn có những đóng góp lớn cho tiến trình phát ... ... Top 5 Đề tài Tìm hiểu về văn hóa Trung Quốc - Luận văn Tác giả - Nhận 139 lượt đánh giá Tóm tắt Kinh tếquốc tếngày nay không ngừng phát triển và trởthành một xu hướng tất yếu của các Quốc gia trên thếgiới. Khi tham gia toàn cầu hóa, mởrộng quan hệkinh doanh với các nước trên thếgiới thì việc nghiên cứu văn hóa của một quốc gia có một vai trò rất lớn trong việc đáp ứng đúng nhu cầu tiêu dùng và được thịtrường. Ngày nay, đã có nhiều sản phẩm khi xâm nhập vào thịtrường quốc tế đã không tìm hiểu kỹvăn hóa của thịtrường và kết quảlà sản phẩm của họvi phạm yếu tốvăn hóa và thịtrường đã không ch Khớp với kết quả tìm kiếm 4 thg 6, 2013 — Khi thâm nhập thịtrường này, việc hiểu rõ văn hóa sẽmang lại nhiều thuận lợi trong sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó, Trung Quốc là một quốc gia ... ... Top 6 Tiểu luận Đặc điểm và những thành tựu tiêu biểu trong lĩnh vực kiến trúc ... Tác giả - Nhận 146 lượt đánh giá Tóm tắt Download Tiểu luận Đặc điểm và những thành tựu tiêu biểu trong lĩnh vực kiến trúc của Trung Quốc cổ trung đại miễn phí Cửa chính Ngọ môn ở mặt Nam là nơi hoàng đế kiểm duyệt quân đội. Qua khỏi Ngọ môn là một đại viện, kim thủy hà xuyên ngang, trên sông có năm cầu đá cẩm thạch, đạo diện cho ngũ đức. Sau năm 1949, Tử Cấm Thành được đổi làm Viện bảo tàng Cố Cung. Đây là hoàng cung của chế độ phong kiến trung Quốc suốt 500 năm. Quy mô to lớn, phong cách đẹp mắt, kiến trúc rộng lớn, bày biện sang tr Khớp với kết quả tìm kiếm Năm 1987, UNESCO tuyên bố Tử Cấm Thành là một trong những di sản văn hóa thế ... sử và những đóng góp về sự sáng tạo của những thế hệ người dân Trung Quốc, ... ... Top 7 văn hoá Trung Quốc trang 1 tải miễn phí từ tailieuXANH Tác giả - Nhận 136 lượt đánh giá Tóm tắt Trang web này phụ thuộc vào doanh thu từ số lần hiển thị quảng cáo để tồn tại. Vui lòng tắt trình chặn quảng cáo của bạn hoặc tạm dừng tính năng chặn quảng cáo cho trang web này. Khớp với kết quả tìm kiếm ... Tiểu luận"Nguồn gốc dân tộc Miêu ở Trung Quốc", Luận văn Thạc sĩ Cách dùng chữ đặt tên của người Trung Quốc và hàm ý văn hoá của nó, Đôi nét về văn ... ... Top 8 Tiểu luận Thành tựu của văn hóa Trung Hoa thời trung đại Tác giả - Nhận 161 lượt đánh giá Tóm tắt 2/21/2019 31758 PM Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về các vấn đề cơ bản của Cách mạng Việt Nam đồng thời nó vừa là sự kết tinh giữa tinh hoa vă ...View1120Số lượt tải10 Filedocx Số trang31 2/21/2019 31800 PM Đạo Phật là một trong những học thuyết Triết học - tôn giáo lớn nhất trên thế giới, tồn tại rất lâu đời. Hệ thống giáo lý của nó rất đồ sộ và số lượng phật tử đ ...View809Số lượt tải15 Filedoc Số trang21 2/21/2019 31802 PM Bước sang thế kỉ XXI, tron Khớp với kết quả tìm kiếm Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về các vấn đề cơ bản của Cách mạng Việt Nam đồng thời nó vừa là sự kết tinh giữa tinh hoa vă ... ... Top 9 PDF BÀI TIỂU LUẬN Thu Nguyễn - Tác giả - Nhận 122 lượt đánh giá Tóm tắt Loading PreviewSorry, preview is currently unavailable. You can download the paper by clicking the button above. Khớp với kết quả tìm kiếm BÀI TIỂU LUẬN VĂN HÓA KINH DOANH CỦA TRUNG QUỐC Giảng viên hướng dẫn Ngô ... CHƯƠNG 2 CÁC LƯU Ý VỀ SỰ KHÁ C BIỆT TRONG VĂN HÓA KINH DOANH CỦA QUỐC GIA . ... Top 10 Tiểu Luận Về Nền Văn Minh Trung Quốc - Tìm Văn Bản Tác giả - Nhận 122 lượt đánh giá Khớp với kết quả tìm kiếm Tiểu Luận Về Nền Văn Minh Trung .pdf .xls .ppt .txt và hàng tỷ văn bản, tài liệu, học liệu, sách, được tải xuống miễn phí trên toàn thế giới. ... LỜI MỞ ĐẦUTiếng súng của cuộc chiến tranh thuốc phiện 1839 -1842 đã mở đầu thời kỳ lịch sử cận đại Trung Quốc. Theo các học giả, đây là thời kỳ Trung Quốc phải trải qua những năm tháng đấu tranh đầy phức tạp và bi tráng trong lịch sử Trung lại lịch sử Trung Quốc hơn 2000 năm trước - thời kỳ Xuân thu - Chiến Quốc - chúng ta lại hình dung thấy sự động loạn của xã hội trong giai đoạn chuyển mình lịch sử. Đó chính là mảnh đất màu mỡ cho những tinh hoa nảy nở. Nhìn lại lịch sử cận đại – quãng thời gian cách chúng ta chưa là bao – nhưng dấu ấn thời đại dường như còn vẹn nguyên và vẫn đang được các học giả từng ngày làm sáng rõ thêm giá trị lịch sử của nó, để chúng ta cảm nhận rõ sức mạnh lịch sử, sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại lớn lao như thế nào. Bởi kết quả lịch sử chuyển mình này là sự thai nghén nên một đất nước Trung Hoa phát triển như vũ bão ngày nay – một xã hội Trung Hoa đổi mới hoàn toàn diện mạo, bước vào một nấc thang phồn vinh chưa từng có trong lịch sử. Chúng ta đang sống ở thời kỳ hiện đại hoá - thế giới là một “làng địa cầu” được thu nhỏ bởi sự gắn kết các mối quan hệ con người, vì thế yêu cầu hội nhập phát triển của các nước là tất yếu. Hơn nữa nước ta và Trung Quốc là nước anh em láng giềng, có chung hệ tư tưởng và chung khát vọng phát triển dân tộc, để có được bước đi đúng đắn và có hiệu quả hơn, thiết nghĩ những bài học lịch sử như vậy như những bản đồ định hướng phát triển thật hữu ích biết bao. Bài tiểu luận xin được đề cập tới vấn đề Trung Quốc khát vọng chuyển mình và phát triển hội nhập thời kỳ cận đại hoá nhằm toát lên vấn đề +Muốn xây dựng một đất nước phát triển cùng xu thế phát triển chung của thế giới buộc phải đi theo con đường mở cửa và hội nhập.+Muốn thực hiện được con đường phát triển đất nước thì phải thực hiện đoàn kết dân tộc và một vài vấn đề liên quan được đề cập cụ thể hơn trong quá trình nêu lên các sự kiện lịch sử và phân tích những cái đạt được và chưa đạt được của các sự kiện .NỘI DUNG1. Bối cảnh quốc tếThế kỷ 16 các nước phát triển trên thế giới như Bồ Đào Nha,Tây Ban Nha, Hà Lan, Anh … bắt đầu hình thành hình thái xã hội TBCN. Theo Mác thì sự chuyển biến này có tính quy luật. Nghĩa là một xã hội tư bản tiến bộ, phát triển hơn sẽ ra đời thay thế xã hội phong kiến bảo thủ lạc hậu. Luồng gió TBCN phương Tây bắt đầu lan toả rộng khắp hành tinh. Biểu hiện đầu tiên và cụ thể nhất là bước chân của các nhà phát kiến địa lý và thám hiểm Crôtop-Côlômbô, Ma-zen-lang, những cuộc lùng kiếm thị trường Châu Phi, Châu Á của những tên tư bản da trắng Cơn gió tư bản phương Tây lớn mạnh dần thành bão lốc tràn sang phương Đông. Nó mang trong mình tham vọng tìm kiếm hương liệu, vải lụa, châu báu, Nước Anh sau khi đánh thắng Hà Lan, chế tạo thành công máy hơi nước tạo cơ sở cho cuộc cách mạng công nghiệp Anh 1640 và trở thành nước tiên tiến nhất thế giới. Phương Đông đối với phương Tây khi đó như một miền đất lạ, bí ẩn nhưng giàu có trù phú vô cùng, đặc biệt là Trung Quốc và Ấn Độ. Thời gian đó Trung Quốc được coi là miền đất giàu tiềm năng, đầy hứa hẹn bởi dân số đông lãnh thổ rộng lớn, nền văn minh văn hoá lâu đời. Điểm đến đầy ma lực đó càng thôi thúc Anh và các nước tư bản phương Tây. Trung Quốc lúc này đang êm đềm bình yên trong giấc mộng mị bá chủ của Bối cảnh đất nước Trung HoaNhư mọi người đều biết lịch sử Trung Hoa là sự nối tiếp lâu dài và liên tục. Trung Quốc luôn tự hào là “Thiên Triều đệ nhất”. Quả thật trong phạm vi khu vực và phạm vi lịch sử cổ, trung đại đó là sự thật. Song sự bảo thủ của chế độ Phong kiến trở thành thâm căn cố đế, và những ý thức quá tự tôn dân tộc đó đến giai đoạn này không còn đúng giá trị Lỗ Tấn từng nhận định rằng Phép thắng lợi tinh thần của người Trung Quốc chính là tích thích sĩ diện mà 2thích sĩ diện chính là cương lĩnh tinh thần thể hiện rõ nhất qua nhân vật AQ.Điều thậm tệ là nó bắt đầu phát huy tính phản tác dụng. Điểm qua bằng các điều ước mà nhà Thanh lần lượt kí với các cường quốc để thấy được sự ươn hèn của chế độ phong kiến thoái trào. Từ điều ước Nam Kinh, điều ước Bắc Kinh, điều ước Thiên Tân, điều ước Mã Quan , đồng thời cũng thấy được khát vọng thay thế chế độ chính trị đã lỗi thời, khát vọng vươn lên phát triển làm giàu, khát vọng tìm đường đi cho dân tộc của nhân dân Trung mặt đại diện xã hội phong kiến lúc bấy giờ là giai cấp thống trị Mãn Thanh. Hội tụ ở đó có lẽ hầu hết những gì xấu xa, cặn bã nhất của một chế độ phong kiến mạt kì. Không chỉ là những cái thủ cựu của một triều đại đang bước vào giai đoạn cuối mà còn là những bảo thủ ngu dốt nhất của một thời đại đình Mãn Thanh vốn là một dân tộc du mục sống bằng nghề săn bắn hái lượm .Họ vượt vạn Lý Trường Thành vào xâm lược Trung Quốc. Hành động này vốn đã gây nên hố ngăn cách dân tộc. Những chính sách phân biệt dân tộc càng tăng thêm sự kì thị về chủng tộc. Mâu thuẫn dân tộc khi đó càng gay kinh tế chủ yếu phục vụ giai cấp phong kiến. Các quan lại ra sức vơ vét của cải trong khiến đời sống nhân dân không thể phát triển hơn được nữa. Khi Anh đặt quan hệ thông thương buôn bán, triều đình nhà Thanh không đủ trí tuệ ,sự khôn khéo để đối phó với thương nhân Anh. Thuốc phiện đã làm mu muội đầu óc của phần lớn quan lại và một bộ phận nhân dân cũng sa vào cảnh hút sách, đói kém mặc cho vận mệnh đất nước trước sự nhòm ngó, đe doạ xâm lược của nước lúc đó triều đình Mãn Thanh còn thi hành chính sách “bế quan toả cảng” cấm thương nhân và giáo sĩ truyền đại. Chính sách tự vệ phòng thủ này đủ thấy rõ sự yếu kém của triều Thanh . Trong khi đó người dân rên xiết vì đói, vì áp bức. Không khí nặng nề bao phủ cả Trung Quốc đương thời. Rất may là ý chí chiến đấu của một bộ phận nguời có ý thức đến vận mệnh đất nước vẫn âm ỉ nhen nhúm. Đây là cơ sở châm ngòi cho các cuộc đấu tranh sau Các cao trào làn sóng đấu tranh của nhân dân Trung Hoa3Sự kiện Lâm Tắc Từ đốt 2 vạn hòm thuốc phiện được nhân dân reo hò hưởng ứng. Nó đụng chạm tới quyền lợi của những người cấu kết với Anh và làm thiệt hại nguồn hàng lớn của chúng . Ngọn lửa của ông thắp lên ngọn lửa chiến tranh thuốc phiện. Đồng thời thắp lên ngọn lửa đấu tranh trong nhân dân. Cuộc chiến tranh thuốc phiện mở đầu thời kì đấu tranh của nhân dân Trung Hoa mong thực hiện khát vọng chuyển mình. Cụ thể là nhân dân Tam Nguyên Lý. Dù rằng đây chỉ là cuộc đấu tranh mang tính chất bùng phát và nhỏ lẻ “nhân dân 103 thôn vùng Tam Nguyên Lý Quảng Châu tập hợp lại, nổi dậy chống thực dân Anh để bảo vệ xóm làng .” Kết quả là triều đình Mãn Thanh đầu hàng, cuộc đấu tranh không có kết quả nhưng vẫn để lại một trang sử vẻ vang, cổ vũ tinh thần đấu tranh chống xâm lược trong toàn nhân quả của cuộc chiến tranh nha phiến chính là bài học lớn cho nhân dân Trung Hoa .Thể hiện đầu tiên là triều đình Mãn Thanh cách chức Lâm Tắc Từ và cho tiêu diệt những người của vậy vô hình chung đã đình chỉ việc cấm thuốc phiện .Thứ đến sự nhượng bộ dẫn đến việc ký kết điều ước Nam Kinh, điều ước Hổ Môm. Nội dung của điều ước Nam Kinh là cắt đất Hương Cảng cho Anh, đền 21 triệu bảng Lần đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa chấp nhận cắt lãnh thổ cho giặc ngoại xâm. Đây là nỗi nhục nhã đối với triều đình Mãn Thanh và cả dân tộc. Niềm tự hào về một dân tộc đứng trên các dân tộc. Bây giờ chỉ là hư danh Thực lực của một đất nước Trung Hoa hùng mạnh xưa kia giờ đây chỉ như một bộ máy rệu rã với các tên quan lại qụy lụy vì thuốc phiện và súng đạn . Nhưng nỗi khổ vẫn thuộc về nhân dân. Quan lại càng ra sức cướp bóc của cải của dân phục vụ cho những nhu cầu trước của chúng và cung phụng cho bọn thực dân .Cuộc chiến tranh thuốc phiện theo quy luật đã thực hiện được sứ mệnh lịch sử của mình. Nó chính là công cụ của kẻ mạnh đi chi phối kẻ yếu, kẻ lạc hậu. Theo Mác “Thực dân Pháp nếu không cuốn những vùng lạc hậu trên thế giới thì nó chưa thể thực hiện đuợc sứ mệnh của mình.” Nếu thế, nó không thể tồn tại được. Thuốc phiện đã gõ cửa Trung Quốc. Cuộc chiến tranh thuốc phiện 4đã có nhiệm vụ phá vỡ xã hội cổ truyền phong kiến quá lạc hậu ở Trung Quốc - một nền sản xuất không còn phù hợp với thời đại và sẽ đưa vào đó một quan hệ sản xuất mới chắc chắn tiến bộ hơn, mô hình xã hội chắc chắn làtiên tiến ra,khi đó cơn lốc tư bản phương Tây còn làm nhiệm vụ lịch sử với cả xã hội phương Đông mà Lê Nin gọi thời kì này là thời kỳ “ Châu á thức tỉnh”.Mỗi dân tộc đều có những phản ứng khác nhau. Dân tộc Trung Hoa do có trở ngại lớn là thành trì phong kiến còn khá kiên cố, lại không đủ tỉnh táo, cứng rắn và mềm dẻo trong vịêc ngoại giao, đoàn kết cùng nhân dân đấu tranh. Nên sự chuyển mình tỉnh giấc của dân tộc Trung Hoa phải trả bằng giá đau đớn hơn nữa chứ không dừng lại ở các điều ước sau chiến tranh thuốc lại Nhật Bản - một đất nước so sánh với Trung Quốc thì ở phương diện nào cũng thấy khập khiễng. Thế mà, nhờ có sự thức tỉnh đúng lúc, nhận thức thời đại đúng theo quy luật phát triển của nó đặc biệt thái độ học hỏi “cầu thị ”, “Bất xỉ khả vấn” Không xấu hổ hỏi người dưới mình đã đưa cuộc Cách mạng Minh Trị thành công, nước Nhật nhanh chóng thoát khỏi cảnh nghèo nàn, lạc hậu, thoát cảnh xâm lược và còn vươn lên làm cường quốc cùng các nước khi Lan cũng khôn khéo làm đệm cho tư bản để không bị xâm mới biết, vai trò nhận thức thời đại của những lãnh tụ quan trọng như thế nào. Và quy luật đào thải của lịch sử đúng cho bất cứ quốc gia nào. Như Tôn Trung Sơn từng nói Triều sóng của thế giới đang cuộn cuộn chảy, xuôi dòng thì sống, ngược dòng thì chết. Nước Trung Hoa có bề dày lịch sử huy hoàng vẻ vang lớn mạnh là thế. Chỉ vì từ chối quy luật lịch sử, đi ngược lại quy luật thời đại quy luật mở cửa hội nhập đã bị lịch sử đáp trả bằng một cú đánh đau đớn đáng tiếc là gã khổng lồ Trung Quốc khi đó vẫn chỉ biết giãy giụa trong đau đớn, gắng gượng tìm lối thoát một cách bất lực suốt gần một thế kỉ bởi sự kìm kẹp phong toả của các thế lực phong kiến và thực dân tư cuộc chiến tranh thuốc phiện, xã hội Trung Quốc bước vào thời kì nửa phong kiến nửa thực dân. Cả vùng nông thôn rộng lớn Trung Quốc trở thành thị trường tiêu thụ hàng hoá và nơi cung cấp người lao động rẻ mạt. 5“Ngoài thực dân Anh, hầu như tất cả các nước đều tham gia buôn bán thuốc phiện ở Trung Quốc”, hàng hoá nước ngoài tràn vào rất nhiều và rẻ, thương nhân bất bình trong việc buôn bán với nước ngoài. Nhân dân phải mua bạc trắng với giá cắt cổ để nộp thuế, những lúc giáp hạt, mất mùa người dân còn bị bọn cho vay nặng lãi bóc lột thêm. Sự biến động về kinh tế làm cho xã hội Trung Quốc phân hoá nhanh chóng. Nó là bộ dạng dị hình của CNTB, nó không lệ thuộc vào một chế độ bù nhìn yếu đuối như Việt Nam cùng thời nhưng nó vẫn chịu một sự lệ thuộc gián tiếp từ nước ngoài. Tôn Trung Sơn nhận xét đây là “một xã hội nửa dơi nửa chuột”. Thế đứng chông chênh luôn ở trạng thái mất hết chủ quyền. Bọn thống trị Mãn Thanh thì không còn gì trông cậy nữa người dân thì chới với hoang mang không điểm bấu víu. Đối mặt trước vấn đề độc lập chủ quyền, người dân có ý thức đấu tranh sục sôi hơn cả. Họ nhận thức rằng kho tàng văn hoá ngàn năm hay của cải chất đống trong kho lẫm cũng không đủ mạnh đánh lại súng đạn. Sự cam chịu cũng không mang lại cuộc sống yên bình cho họ. Chỉ có đấu tranh bằng bạo lực mới mong thoát khỏi cuộc sống thực tại. Nổi lên khi đó là Hồng Tú Toàn - một thanh niên trí thức có nhiệt huyết với dân tộc với đất nước. Đúng lúc ông cảm thấy bất mãn với chế độ xã hội thì ông gặp giáo lý cơ đốc giáo. Mệnh đề thiên hạ nhất gia cộng hưởng thái bình” thật phù hợp với tư tưởng bình quân chủ nghĩa của người nông dân. Sức hấp dẫn đó đã lay động, thôi thúc ông. Ông cùng người bạn lập ra Thượng Đế hội. Khát vọng đổi đời bấy lâu của người dân trở thành động lực, thành cơ sở thu hút nông dân tham gia. Lực lượng dần lớn mạnh và có thể làm cách đích đấu tranh là xây dựng xã hội đại đồng, công bằng như thiên đường trong kinh thánh. Thế nên chỉ trong thời gian ngắn 3 năm phong trào tiến một chặng đường dài, giành thắng lợi trên 18 tỉnh thành -phong trào tồn tại trong 14 năm và bị thất bại. Phong trào thất bại vì phong trào còn tồn tại nhiều điều bất cậpThứ nhất Chủ trương xây dựng một xã hội đại đồng - Đây chỉ là lời kêu gọi chứ nó không có tính hiện. Người nông dân là người có bản chất tự tư, tự lợi, an phận. Hơn nữa, thắng lợi đến quá chóng vánh khiến họ choáng ngợp vì 6lợi danh, dễ thoả mãn với thành quả cách mạng. Mọi người quay về hưởng thụ cá nhân. Điều này làm nhụt ý chí chiến đấu và tinh thần đại đoàn kết dân tộc của đại bộ phận nhân dân .Ý tưởng xây dựng một xã hội đại đồng như thế chẳng phải đó là mô hình xã hội cộng sản nguyên thuỷ hay sao? Cách làm đó đúng hơn là một sự hoài niệm quá khứ mà lịch sử là tiến trình phát triển đi lên .Thứ nữa Nội bộ những người lãnh đạo cũng chưa chuẩn bị sẵn sàng cho một chính quyền mới - một chính quyền đòi hỏi sự tôi luyện và biết vuợt ước, yêu nước thì phải làm Duy Tân được coi là có những bước thử ngiệm tương đối hoàn chỉnh và có tính khả thi hơn hạn chế lịch sử khiến Trung Quốc chưa đánh giá được giá trị to lớn và tính thực tiễn của nó nên phong trào cuối cùng đã rơi vào sự tuyệt vọng, nuối tiếc của bao thế hệ. Tính thực tiễn trước hết thể hiện ở việc tuyên chiến quyết liệt với chế độ phong kiến -chế độ quân chủ chuyên quyền độc đoán, đặng chuyển Trung Quốc sang hình thức mới là chế độ cộng hoà, nền chính trị dân quyền - tức chủ trương xoá bỏ nền sản xuất tự nhiên chứa đầy tính bảo thủ trì trệ sang một nền sản xuất hàng hoá mang tính xã hội. Điều này phản ánh rõ hơn con đường phát triển chung của nhân loại. Vì thời kỳ cận đại có nghĩa là thời đại TBCN, sự già cỗi của xã hội phong kiên sẽ phải thay thế bằng một xã hội TBCN đang tràn sức xuân. Nhưng Trung Quốc lúc này do triều đình Mãn Thanh hèn yếu bất lực chèo chống nên nảy sinh tư tưởng chưa thể “xoá” thì phải “cải”. Các chiến sĩ trong phong trào Duy Tân qua bài học thực tế của phái Dương Vụ, đặc biệt qua bài học Nhật Bản đã thấy rõ một vấn đề quan trọng của cải cách trưóc hết phải cải Dương Vụ sở dĩ thất bại, không tạo ra một thực lực vì guồng máy chính trị cũ kỹ rệu rã, thủ cựu không thể vận hành bảo đảm cho một xã hội phát triển .Trong khi Nhật Bản thay đổi quyền lực, tổ chức một guồng máy chính trị mới là một bằng chứng thực tế sống động thôi thúc các nhà Duy Tân cải chế. Với nội dung cải chế về bộ máy chính trị, hệ thống quan lại, cách tuyển lựa người tài nhiều lần được Khang Hữu Vi đệ thư lên vua Quang Tự. Hàng loạt các vấn đề nêu ra như vậy cùng những khát khao kết thúc chế độ quan trị dân, lừa dân, ngu dân, thay một bộ máy chính trị dân chủ, bộ máy chính quyền vì dân làm ước xây dựng một bộ máy như vậy quả thực cho tới nay vẫn còn là mục tiêu hàng đầu của các nhà lãnh đạo cấp tiến, tiếc rằng ý tưởng của họ không được các nhà cầm quyền triều Thanh chấp nhận dù vua Quang Tự rất tán thành nhưng ông chỉ là “hữu danh vô thực” mà thôi. Mọi quyền lực đều nằm trong tay phái bảo thủ do Từ Hi Thái Hậu đứng đầuTính thực tiễn của phong trào còn thể hiện ở tư tưởng cách mạng về kinh tế xã ta đã biết tư tưởng coi thường thương nghiệp vốn là tư tưởng cố hữu của Nho giáo Trung Quốc. Tư tưởng “nông bản thương mạt” đã chi phối lâu dài trong lịch sử Trung Quốc. Nhân dân Trung Hoa muốn thoát khỏi cảnh nghèo và lạc hậu hiện nay nhất định phải thay bằng tư tưởng “Dĩ thương lập quốc” và “thượng công”. Đây là xương sống tạo cho đất nước chuyển mình, tư tưởng này được các học giả đánh giá là “mang tính cách mạng” vì tư tưởng này đã tuyên chiến với tư tưởng “nông vi bản” ngàn đời ở Truung nói rằng, sự xâm thực của đế quốc, thực dân tư bản Âu-Mỹ đã tạo nên một lực đẩy đối với kinh tế xã hội Trung Quốc. Những nhà Duy Tân thông qua thực tiễn lịch sử, ý thức được sứ mệnh nền kinh tế sản xuất hàng hoá TBCN. Do lập luận, nhận thức của phong trào còn thô sơ mới chỉ nắm bắt được bản chất vấn đề mà ý tưởng mới, những nhận thức mới về thương nghiệp của họ có thể xếp vào vị trí hàng đầu các nhân vật lịch sử tiên phong cho con đường hội nhập, phát triển củaêTrung Quốc thời cận đề cuối cùng cũng được coi là vấn đề mang tính thực tiễn đó là phong trào cải cách học phong - giáo dục nhân thế đã và đang thay đổi tư tưởng “ thiên bất biến, đạo bất biến” không thể tồn tại được nữa. Thực tế vừa qua đã chứng minh rằng súng đạn kỹ thuật tàu chiến phương tây sẵn sàng bắn phá tất cả thành trì luân lý phong kiến Trung Quốc nghìn năm nay. Do đó Trung Quốc dù muốn hay không cũng phải thay đổi bởi “thiên dĩ biến, đạo diệc tuỳ biến”.Thay đổi tư tưởng thâm căn cố đế của cả một dân tộc quả là điều không dễ. Khang Hữu Vi - lãnh tụ phong trào - chủ trương bắt đầu từ học phong. Lối sùng bái cách học cũ sùng bái tư tưởng cũ đã kìm hãm tư tưởng, kìm hãm mọi sự bắt đầu của xã hội cần phải phá vỡ. Sau đó người dạy phải giữ được cái tâm trong sáng để giảng sử và cuối cùng là học phương tây, học tri thức cấp tiến nhân loại chứ không chỉ học tri thức giáo loạt hoạt động cải cách học phong như các sĩ tử liên hiệp nhau ký tên lên “vạn ngôn thư” là sự tuyên chiến đòi tự do của tri thức đối với chế độ phong kiến bảo thủ. Lập cường học hội với mục đích tìm ra cái thực dụng của việc học, và tìm ra câu trả lời thời đại. Song phong trào mới chỉ đứng trên lập trường của tầng lớp tri thức, chỉ tập trung giải quyết những bức xúc của tầng lớp mà chưa nhìn thẳng vào thực tế nhân dân Trung Quốc. Những con người cần no bụng hơn bất cứ cái gì khác và sức mạnh chiến đấu cũng chính nơi họ đặc biệt là giai cấp nông dân. Sức mạnh trở thuyền và lật thuyền là ở đó chứ đâu. Tất nhiên sự thất bại của phong trào còn do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác như họ chưa nắm được quyền lực trong tay, kẻ thù dân tộc còn quá mạnh không muốn Trung Quốc Duy Tân thành công để dễ bề thao túng…4. Bước đầu thành công Đối với Duy Tân là dùng vũ khí phê phán. Nhưng thời kỳ dùng lý lẽ tạo nên sức mạnh đoàn kết như thời kỳ du thuyết Xuân Thu Chiến Quốc đã qua rồi .Cái vũ khí mà Trung Quốc cần hiện nay là súng đạn chứ không phải vũ khí phê bình. Ngoài ra còn có một thứ vũ khí tinh thần hết sức quan trọng, đó là sự đoàn 10kết toàn dân tộc. Cuộc cách mạng Tân Hợi lật đổ nhà Thanh cũng phần nào khai thác được sức mạnh giai đoạn cuối của thời kỳ đấu tranh này nổi lên một nhân vật mà sau này tên tuổi của ông sánh ngang với các nhà lãnh đạo cận hiện đại Trung Quốc là Tôn Trung Trung Sơn ngay từ khi còn nhỏ đã rất khâm phục Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu. Lớn lên, ông tiếp xúc với nền văn hoá phương tây, nhìn lại các cuộc đấu tranh vừa qua ông thấy được quy luật vận động của lịch sử Trung Quốc phải gắn liền với thế giới, ông tìm ra những bước đi cần thiết và nhiệm vụ mà Trung Quốc phải làm. Thời gian đó vấn đề nổi bật ở thuyết tam dân là vấn đề dân tộc, ông chú trọng dân tộc Mãn. Ông chỉ rõ dân tộc Trung Hoa sở dĩ rơi vào tình cảnh này là vì chế độ Mãn Thanh ngu dốt, bộ máy quan lại cồng kềnh đeo bám người nông dân khiến không kinh tế không thể phát triển được, khiến người nông dân bị thiệt thòi quá tộc Mãn Thanh từ lâu đã là kẻ cướp nước đối với dân tộc Hán. Điều này càng kích động lòng dân đứng lên chống triều đình Mãn Thanh. Ông đề cập đến vấn đề dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc. Mong muốn xây dựng một nhà nước của dân, do dân và vì dân. Tư tưởng nhân văn và tiến bộ này tiếp thu từ các học giả ưu thời Khổng, Mạnh, Licoln trở thành những lý luận cách mạng. “Mà lý luận cách mạng một khi đi vào quần chúng, hấp dẫn quần chúng sẽ tạo nên một xung lực to lớn, có khả năng lật nhào toàn bộ chế độ lỗi thời”-trích lời thầy Nguyễn Văn Hông.Cuộc cách mạng dưới ngọn cờ tư tưởng của Tôn Trung Sơn sớm thắng lợi và hoàn thành sứ mệnh lịch sử là tuyên án chế độ phong kiến Trung Quôc hàng nghìn năm. Như vậy Trung Quốc sau hơn 2000 năm tồn tại chế độ phong kiến mà cụ thể là triều đình phong kiến Mãn Thanh trải qua các cuộc đấu tranh của nhân dân và sự giúp sức của tư bản phương Tây cuối cùng cũng rút lui khỏi chính trường, nhường chỗ cho một chế độ chính trị mới cấp tến hơn .Sự tồn tại ngoan cố đó như một thế lực vô hình gông cùm sự phát triển của đất nước. Cuộc 11cách mạng tuy không giải quyết triệt để nhưng nó có ý nghĩa rất lớn đối với dân tôc Trung hết nó đem lại một diện mạo mới cho xã hội Trung Quốc. Người dân đã phá bỏ được cái “lọng rách” của triều đình nhà đến trong quá trình đấu tranh tư tưởng cộng hoà dân chủ ăn sâu bám rễ vào quần chúng tạo điều kiện cho tư tưởng dân chủ cách mạng phát triển trong lòng đất nước Trung Hoa trang bị hành trang cho cuôc chiến trường chinh mới đó là cuộc chiến chống ngoại xâm và bè lũ phản động. Nhưng bài học quan trọng hơn cả là làm sao để đoàn kết toàn dân tộc. Nếu ông không quá nhấn mạnh yếu tố dân tộc Hán và dân tộc Mãn Thanh. Khi lấy được lòng dân thì đoàn kết cùng các dân tộc anh em trên đất nước đánh giấc kiên quyết tiêu diệt phe cánh với đế quốc, thì có lẽ ông đã không nhường quyền lợi của cá nhân ông nói riêng, quyền lợi dân tộc nói chung sang tay Viên Thế Khải. Người dân là nguồn sức mạnh to lớn nếu trong học thuyết của Tôn Trung Sơn đề cập tới vấn đề ruộng đất cho nông dân. Vì Trung Quốc đại bộ phận là nông dân, ông chưa nhìn thấy sức mạnh của họ và nuôi nhiều ảo tưởng về đế quốc dẫn đến lý do thất bại cũng một phần chủ quan ở ông. “Tôn Trung Sơn là người nhẹ dạ cả tin” Bí mật về tám vị tổng thống Trung Hoa - T1 ông luôn trăn trở làm thế nào để Trung Quốc giàu và mạnh vì chỉ có giàu mạnh TQ mới thoát khỏi bị xỉ nhục và bị bắt vậy các cuộc đấu tranh, các phong trào duy tân trong thời kỳ này chưa thực sự giải đáp được vấn đề lớn của dân tộc Trung Hoa- giàu và mạnh. Trong quá trình chuyển mình thực hiện khát vọng phát triển và hội nhập Trung Quốc, các phong trào dù ở khía cạnh này hay phương diện kia đều có hạn chế nhất định. Có một vấn đề mà hầu hết các phong trào đều làm chưa tốt hay chưa chọn vẹn là người dân Trung Hoa. Khi các nhà thống trị muốn đạt mục đích thì dùng thủ đoạn để kêu gọi, dụ dỗ họ góp sức góp của. Họ mới chỉ được sử dụng như một công cụ, một con rối cho các phong trào điều khiển. Cuộc cách mạn Tân Hợi được coi là sử dụng súc dân hiệu quả nhất nhưng cũng chưa thực sự12đưa lại kết quả cuối cùng tốt đẹp cho họ. Số phận của họ thật rẻ rúng và đáng thương biết bao. Chỉ đến khi tư tưởng của chủ nghĩa Mác đi vào quần chúng nhân dân Trung Hoa, giác ngộ họ thì lúc đó vị trí con người ở họ được thức LUẬNThời kỳ lịch sử cận đại Trung Hoa là thời kỳ đầy máu và nước mắt. Đã có bao nhiêu thế hệ cha anh ngã xuống trong các cuộc chiến liên miên với Anh 1840-1842, với Pháp, với Nhật 1894-1895, đan xen các cuộc nội chiến. Đã có không biết bao nhiêu con người trăn trở day dứt những mong tìm ra lối thoát cho dân tộc. Những khoản bồi thường bạc trắng cho các đế quốc, những điều ước bán nước đầy nhục nhã. Những hy sinh mất mát đó dòng dã kéo gần một thế kỷ 1840-1911.Người dân không lúc nào không thôi than khóc vì sự dày xéo của giặc ngoại xâm, và luôn bị rên xiết vì sự áp bức của bọn thống trị nhà Thanh. Đó là một chặng đường thật bi thương và bi hùng quá. Trong quá trình tìm con đường phát triển,Trung Quốc phải trả giá quá đắt. Song Trung Quốc hiện nay chính là câu trả lời, là sự bù đắp lại những gì mất mát, những gì cha ông họ chưa thực hiện được. Ma Cao1995, Hồng Kông1997, lần lượt trở về Trung Quốc, vấn đề Đài Loan cũng đang được chính phủ và nhân dân Trung Quốc quan tế phát triển, chính trị trên trường quốc tế không ngừng nâng cao. Trung Quốc hiện nay khiến cả thế giới giật mình kinh hoàng vì sự phát triển của vậy đất nước Trung Hoa từng kì vọng chuyển mình và phát triển hội nhập từ cận đại hoá đến hiện đại hoá vẫn luôn là đề tài hấp dẫn, mang tính thời đại đối với các nhà nghiên cứu và những người yêu thích đất nước Trung Hoa. 13TÀI LIỆU THAM KHẢO1. Bí mật về tám vị tổng thống Trung Hoa-T1 cb Vương Hiếu Minh- Nxb Chính trị quốc gia - 2001 2. Lịch sử thế giới cận đại - Vũ Dương Ninh - Nguyễn Văn Hồng- Nxb Chinh trị quốc gia - 20023. Lịch sử cận đại Trung Quốc T1- nd Trần Văn Giáp- bs Đinh Hiểu Tiên - 19??4. Mấy vấn đề về lịch sử Châu Á- và lịch sử Việt Nam - Một cách nhìn Nguyễn Văn Hồng- Nxb Văn hoá dân tộc - 20015. Tạp chí nghiên cứu Trung Quốc 1. Một trăm năm phong trào Duy Tân Mậu Tuất1898 -1998… Nguyễn Văn Hồng Số 6 / 19982. Cải cách học phong…Nguyễn Văn Hồng3. Những con đường du nhập Tây học…MỤC LỤC14 Ngày đăng 23/04/2015, 1129 TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI KHOA LỊCH SỬ BÀI TẬP ĐIỀU KIỆN BỘ MÔN LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI ĐỀ TÀI NỀN VĂN MINH CỔ TRUNG ĐẠI ÊN ĐỘ CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ NHỮNG THÀNH TỰU CHỦ YẾU Họ và tên Nguyễn Thị Dung Líp cao học K17 Thầy giáo hướng dẫn Đỗ Thanh Bình Hà Nội 03/2008 Nguyễn Thị Dung Lịch sử văn minh thế giới MỞ ĐẦU Văn minh là một nền văn hoá phát triển ở một trình độ cao của con người, gắn với một thiết chế chính trị, xã hội nhất định từ sau chế độ công xã nguyên thuỷ. Thời kì lịch sử cổ trung đại của Ên Độ đã tồn tại một nền văn minh rực rỡ. Trong số các điều kiện hình thành nên nền văn minh này thì điều kiện địa lí có vai trò định hình nền móng ban đầu. Nhưng điều kiện cơ bản nhất khẳng định sự phát triển về sau của nền văn minh đó chính là yếu tố kinh tế. Trong khuôn khổ một bài tập điều kiện, em xin phép được trình bày về cơ sở hình thành nền văn minh Ên Độ cổ trung đại dưới góc nhìn của điều kiện địa lí và điều kiện kinh tế. 2 Nguyễn Thị Dung Lịch sử văn minh thế giới NỘI DUNG A/ CƠ SỞ HÌNH THÀNH I/ Điều kiện địa lí Ấn Độ được coi nh mét tiểu lục địa nằm ở phía nam châu thời kì hình thành và phát triển nền văn minh cổ trung đại thì lãnh thổ Ên Độ vẫn bao gồm cả Pa-ki-xtan, Băng-la-đet và Nê-pan. Về mặt vị trí địa lí, bán đảo Ên Độ có chiều ngang rộng từ 67 đến 87° kinh đông và có chiều dài từ 7 đến 32° vĩ bắc. Phía đông bắc, Ên Độ được ngăn cách với lục địa châu Á bằng dãy núi Hi-ma-lay-a cao nhất thế giới. Ên Độ chỉ có thể liên hệ bằng đường bộ với thế giới qua phía tây-bắc, qua đèo Bolan, hoặc từ Ta- xi-la qua Ka-bul để đến I-ran và Trung Á. Tuy nhiên 2 mặt phía tây nam và phía đông nam của Ên Độ đều giáp biển. Vị trí của Ên Độ nằm giữa đường biển từ Tây Hồng Hải và vịnh Ba-tư sang Đông biển Đông và Thái Bình Dương . Đây chính là nơi dừng chân bắt buộc trên con đường hàng hải Tây- Đông. Đặc biệt, với đường biển thuận lợi nh thế thì việc thông thương giữa các vùng khác trên thế giới với Ên Độ hoặc từ Ên Độ đi các nơi khác là hết sức dễ dàng và thuận tiện. Về mặt địa hình thì lãnh thổ Ên Độ được chia thành 2 miền tương đối rõ rệt qua sự ngăn cách của dãy núi Vindhya. Nửa lãnh thổ phía bắc là lưu vực của 2 con sông lớn sông Ên Indus ở phía tây- bắc và sông Hằng Ganga ở phía đông- bắc. Lưu vực sông Ên một thời có điều kiện đất đai rất thuận lợi cho một nền kinh tế nông nghiệp. Và đây là một trong những cái nôi để hình thành nền văn minh cổ đại Ên Độ. Tuy nhiên sau đó khu vực này đã bị chi phối bởi các hiện tượng như hoang mạc hoá, cát lấn nên phần chủ yếu của lưu vực sông Ên chịu tác động từ hoang mạc Thar. Tuy nhiên lưu vực sông Hằng thì màu mỡ và ổn định hơn. Nửa lãnh thổ phía nam rất rộng lớn nhưng lại là vùng đất không có nhiều ưu đãi. Mặc dù có hai mặt giáp biển nhưng ảnh hưởng của biển không nhiều đối với 3 Nguyễn Thị Dung Lịch sử văn minh thế giới khu vực này do hai dãy núi Gát-Đông và Gát-Tây bao chắn ở hai bờ phía đông và phía tây của bán đảo. Sự khép lại của hai dãy núi này đã tạo nên một cao nguyên Đê-can khô hạn. Đây là vùng núi cao, rừng rậm rộng lớn và khá khắc nghiệt. Tuy nhiên chạy dọc theo hai bờ đông tây của bán đảo Ên Độ là hai vùng đồng bằng duyên hải nhỏ hẹp. Đây là những nơi điều kiện sống thuận lợi nên cư dân tập trung khá đông đúc. Về mặt khí hậu, khí hậu Ên Độ khá đa dạng xét theo chiều giảm dần của vĩ độ. Phía bắc, vùng giáp chân núi Himalaya thì khí hậu rất lạnh, có tuyết rơi. Nhưng ngay ở phía bắc Ên Độ, tính từ vĩ độ 23° bắc thì khí hậu đã rất nóng và khô do ảnh hưởng của đới chí tuyến. Vùng tây bắc thuộc lưu vực sông Ên, khí hậu khô nóng. Chính kiểu khí hậu này đã tạo nên hoang mạc Thar rộng lớn, mỗi chiều khoảng 600 km. Và đến lượt nó, hoang mạc Thar lại tác động trở lại đối với khu vực. Lưu vực sông Ên vốn Ýt mưa lại chịu tác động trực tiếp từ hoang mạc Thar nên cát bay dữ dội, phủ một líp dày trên hai bê trung lưu sông Ên. Nhưng phía đông bắc, vùng lưu vực sông Hằng thì lại là một bức tranh khác hẳn. Chịu ảnh hưởng của gió mùa từ biển thổi vào nên lưu vực sông Hằng có mưa và thực vật phát triển tốt. Nhiều ngành kinh tế, đặc biệt là trồng lúa nước khá phát triển. Dịch xuống phía nam, nh đã nói ở trên, là khu vực cao nguyên Đê-can rất khô, nóng và rất nóng. Nhưng ở vùng duyên hải thì gió biển đã đem lại mưa, khí hậu dịu mát hơn và có nhiều nước sinh hoạt cho người dân ở đây. Nh vậy Ên Độ là một quốc gia có thiên nhiên đa dạng. Miền Bắc có lắm sông ngòi và nhiều điều kiện thuận lợi cho nông nghiệp phát triển. Miền Nam có lắm rừng nhiều núi, có sa mạc nóng cháy lại có mưa gió theo mùa. Đây quả thật là một thiên nhiên vừa đóng kín, vừa cởi mở, vừa là một tiểu lục địa thống nhất, cách biệt với bên ngoài, vừa chia cắt và khác nhau ở bên trong, vừa hùng vĩ và cực kì đa dạng. 4 Nguyễn Thị Dung Lịch sử văn minh thế giới Chính sự đa dạng trên đây, đặc biệt là các điều kiện thuận lợi ở các lưu vực sông ở miền Bắc mà cư dân cổ đại Ên Độ đã sáng tạo nên một nền văn minh rực rỡ. Trong điều kiện thời kì cổ đại, khi các yếu tố về khoa học kĩ thuật chưa chi phối thì những điều kiện địa lí thuận lợi chính là những viên gạch đầu tiên xây dựng nên nền văn minh cổ trung đại Ên Độ. II/ Điều kiện kinh tế Kinh tế thời cổ trung đại Ên Độ vừa là điều kiện để hình thành nên các giá trị của nền văn minh Ên Độ vừa là biểu hiện của nền văn minh đó. Tuy nhiên, tương ứng với các giai đoạn phát triển khác nhau của nền văn minh cổ trung đại Ên Độ thì sự phát triển kinh tế ở mỗi giai đoạn là khác nhau. Vì thế, xin phép đựoc trình bày các điều kiện kinh tế theo các giai đoạn của nền văn minh. 1/ Thời kì văn minh lưu vực sông Ên từ đầu TNK III TCN đến giữa TNK II TCN Nh trên chúng ta đã biết, khởi nguyên của nền văn minh cổ trung đại Ên Độ là nền văn minh sông Ên văn minh I ndus. Từ rất sớm cư dân Indus đã định cư trên lưu vực sông Ên tạo nên các thành phố cổ với những ngành kinh tế sơ khai. Đầu tiên là ngành kinh tế nông nghiệp. Thời kì này công cụ đồng thau đã xuất hiện nhưng cư dân chưa biết đến kĩ nghệ đồ sắt. Họ không trồng lúa nước mà trồng lúa đại mạch. Nông nghiệp đã khá phát triển biểu hiện qua số thóc thừa chứa trong các kho đụn. Bên cạnh nông nghiệp, thủ công nghiệp cũng đã có sự phát triển. Sản phẩm thủ công nghiệp khá phong phú, từ công cụ lao động đến đồ gốm, đồ trang sức Sản phẩm thủ công nghiệp của Ên Độ cũng đã có mặt tại Lưỡng Hà và ngược lại. Do buôn bán phát triển mà sản phẩm của Lưỡng Hà cũng có mặt ở đây. Một con dấu hình trụ của Lưỡng Hà được chế tạo mô phỏng theo kiểu của Ên Độ đã nói lên quan hệ giao lưu thương mại giữa hai vùng. 5 Nguyễn Thị Dung Lịch sử văn minh thế giới Tuy nhiên do nhiều lÝ do, trong đó có sự ảnh hưởng trực tiếp của thời tiết mà sau đó cư dân sông Ên đã loạn li. Hướng đi của cư dân Arya là về phía đông, định cư trên lưu vực sông Ganga. Lóc này cư dân bản địa ở đây mới bước vào thời kì đồng thau, vừa chăn nuôi vừa làm nông nghiệp sơ khai và chế tác đồ gốm. Người Arya đến và đã dạy người dân bản địa cách dùng ngựa để chuyên chở. Còn người bản địa thì lại dạy người Arya cách trồng lúa nước. Vì thế, một ngành nông nghiệp định cư đã thay thế cho chăn nuôi du mục, thực sự phát triển năng động, nhanh chóng chiếm ưu thế và làm chủ lưu vực sông G anga. Đó là cơ sở để làm nên nền văn minh ở lưu vực sông Hằng. 2/ Thời kì nền văn minh ở lưu vực sông Hằng từ khoảng giữa TNK II TCN đến giữa TNK I TCN. Nh trên đã trình bày thì nông nghiệp thời kì này ở lưu vực sông Hằng đã có những chuyển biến lớn. Cư dân đã biết dùng công cụ đồng và đá để đẽo các dụng cụ bằng gỗ, nhất là lưỡi cày. Họ còn đan bện các đồ dùng bằng lau sậy, thuộc da, làm đồ gốm, mà loại gốm phổ biến nhất là gốm đen bóng có hoa văn giải băng chấm. Cuối giai đoạn này, từ khoảng 800 năm TCN, kĩ nghệ luyện sắt đã được áp dụng. Điều này đã thúc đẩy nghề đúc kim khí, làm đồ gỗ, nhất là xe kéo, nhà cửa. Chính ở thời gian này thương nghiệp bắt đầu xuất hiện. Cư dân trao đổi sản phẩm nông nghiệp và thủ công nghiệp giữa các vùng. Có lẽ cũng đã xuất hiện ngoại thương. Các tài liệu có nói đến việc buôn bán ven biển với vịnh Ba-tư và Hồng Hải qua đường biển Tây-Đông. Hình thức phổ biến trong buôn bán vẫn là trao đổi trực tiếp tuy đã bắt đầu xuất hiện hình thức vật trung gian. Sù phát triển kinh tế nêu trên đã thúc đẩy sự phân hoá xã hội theo tính chất nghề nghiệp. Họ gọi dân làm nghề chăn nuôi ở đông bắc Ên Độ là Panis và dân làm ruộng là Dasa. Suđra hẳn được dùng để chỉ tầng líp này. 3/ Thời kì các quốc gia sơ kì ở miền bắc Ên Độ từ 600-321 TCN. 6 Nguyễn Thị Dung Lịch sử văn minh thế giới Đây là giai đoạn mà ở lưu vực sông Ganga có sự hình thành của hàng loạt tiểu quốc trong đó thừa nhận vai trò bá quyền của tiểu quốc Magađa. Nhưng đây cũng là giai đoạn người Ên Độ bắt đầu có sự tiếp xúc với người Iran và người Hilạp, mà một trong những biểu hiện của sự tiếp xúc đó là sự xâm lược của Alêchxăngđrơ Makêđônia vào phía tây bắc Ên Độ. Tuy nhiên ở chính thời gian đó thung lũng sông Hằng vẫn đứng ngoài những biến động của lưu vực sông Ên. Và mặc cho những thăng trầm diễn ra, vùng này vẫn phát triển và đạt nhiều thành tựu mới. Nông nghiệp tiếp tục phát triển nhờ đất đai màu mỡ và hệ thống thuỷ lợi được mở mang. Các ngành thủ công có nhiều tiến bộ. Nghề luyện sắt và rèn đúc sắt lần đầu tiên nở ré dưới thời Magađa. Các loại mòi lao, giáo, mòi tên sắt đã khá phổ biến. Loại gốm đặc trưng của miền Bắc là loại có xương gốm mịn, tráng màu xanh thẫm, ngả từ màu xanh thép sang sám thẫm và đen bóng. Chủ yếu là đĩa và bát nhỏ- những mặt hàng thương phẩm có giá trị cao. Về dệt, người Ên Độ thời kì này đã dệt được vải trắng sợi bông. Còn về thương nghiệp, thời kì này các nhà buôn chuyên chở và trao đổi hàng hoá từ hạ lưu sông Hằng đến cửa sông Ên rồi theo đường biển đến vịnh Batư và Hồng Hải hoặc ngược sông Hằng lên Ta-xi-la và theo đường bộ đến Iran và Tiền Á. Trong trao đổi người Ên Độ đã đúc được tiền bạc và tiền đồng. 4/ Thời kì vương triều Môrya 321- 232 TCN Đây là thời kì kinh tế vẫn chủ yếu dùa vào nông nghiệp song đã thừa nhận sự chiếm hữu tư nhân về ruộng đất. Việc khai khẩn đất hoang thuộc về nhà nước. Người dân nhận ruộng của làng, tự canh tác và nép thuế. Gắn với nông nghiệp là thuỷ lợi. Nhà nước rất quan tâm đến công tác đắp đê, đào kênh, đập để phát triển nông nghiệp. 7 Nguyễn Thị Dung Lịch sử văn minh thế giới Thủ công nghiệp và thương nghiệp cũng có nhiều tiến bộ. Nhà nước điều khiển việc chế tạo vũ khí và tàu thuyền bên cạnh các nghề thủ công truyền thống. Thợ thủ công tập hợp lại với nhau trong các phường hội. Việc buôn bán nội địa lúc này phát triển hơn nhiều do không còn có sự phân biệt quốc gia này với quốc gia khác từ bắc đến nam. 5/ Thời kì phân liệt trên bán đảo Ên Độ 232 TCN-320 sau CN Đây là thời kì Ên Độ diễn ra sự phân chia các quốc gia với sự phát triển khác nhau giữa các tiểu quốc ở các miền Nam-Bắc. Tuy nhiên có thể nói rằng sau thời kì thống nhất của vương triều Môrya thì đây không phải là một giai đoạn khủng hoảng tan rã của Ên Độ mà đây là sự chia cắt để phát triển cao hơn, tương đối đồng đều hơn trong từng phạm vi nhỏ hơn ở mỗi miền đất nước. 6/ Từ triều đại Gupta đến triều đại Hacsa từ 320 đến 648 Nông nghiệp vẫn được chú trọng với việc khai hoang và làm thuỷ lợi. Trong khi đó thì thủ công nghiệp khá phát triển. Nghề dệt là nghề phát triển nhất và có ý nghĩa hàng đầu đối với kinh tế. Tiếp đến là khai mỏ và luyện kim, đặc biệt là nghề làm đồ trang sức đã đạt đến trình độ nghệ thuật cao và hoàn thiện. Thương nghiệp cũng được phát triển với mạch máu giao thông chính là con sông Hằng. Hàng hoá trao đổi rất phong phú. Một loạt các hải cảng quan trọng đã thu hót các tàu buôn từ Trung Quốc, Ai Cập, Đông Dương, Mã Lai 7/ Thời kì bị chia cắt và xâm lược giữa thế kỉ VII đến thế kỉ XII. Nhìn chung kinh tế Ên Độ thời kì này sa sút dù rằng cũng đã được duy trì ở một mức độ nhất định để phục vụ chiến tranh. Nông nghiệp được canh tác 2 mùa với những kĩ thuật canh tác mới. Sản phẩm thừa từ nông nghiệp được mang ra trao đổi khá phong phú. thời gian này thợ thủ công được các chóa phong kiến đưa vào thành phố nên thủ công nghiệp ở thành thị phát triển mạnh. Ngoại thương vẫn được duy trì nhưng thời kì này người ta còn biết buôn bán cả với Nhật Bản. Thương nhân cũng tập hợp lại trong các đẳng cấp. 8 Nguyễn Thị Dung Lịch sử văn minh thế giới 8/ Thời kì Xuntan Đêli và Ên Độ Môgôn thế kỉ XIII đến thế kỉ XIX Thời kì Xuntan Đêli Nền kinh tế với nông nghiệp vẫn là chủ yếu nhưng thời kì này năng suất đã tăng lên. Thủ công nghiệp vẫn phát triển các ngành truyền thống làm cho ngoại thương cũng trở nên tấp nập với nhiều hải cảng ở vịnh Bengan, biển Arập Bước sang thời kì vương triều Môgôn, với sự tập trung nhất định của nhà nước trong việc điều hành đất nước thì nền kinh tế Ên Độ đã được nâng cao Ýt nhiều. Ngoài trồng cây lương thực người ta còn trồng các loại cây công nghiệp. Mỗi thành phố hải cảng thường có một nghề thủ công riêng nhưng thương mại của thành phố đó mới là quan trọng nhất. Nhìn chung mỗi thời kì nền kinh tế Ên Độ có những bước phát triển riêng nhưng về cơ bản ngành kinh tế truyền thống của nước này vẫn là nông nghiệp và công thương nghiệp. Giao lưu trao đổi nội vùng và với thế giới bên ngoài phát triển mạnh. Nhờ đó, nền văn minh cổ trung đại Ên Độ vừa có những thành tựu đa dạng khẳng định những giá trị của văn hoá truyền thống vừa có sự tiếp thu những tinh hoa văn hoá từ bên ngoài vào. Như vậy kinh tế chính là một trong những điều kiện qui định tính chất và trình độ của nền văn minh cổ trung đại Ên Độ. B/ NHỮNG THÀNH TỰU CHÍNH Trong bối cảnh điều kiện tự nhiên của các lưu vực sông ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh tế và văn hoá nên các thành tựu của nền văn minh Ên Độ có những đặc điểm riêng. Về cơ bản, các thành tựu đó tập trung trên một số lĩnh vực sau 1. Về chữ viết Chữ viết của Ên Độ được sáng tạo đầu tiên vào thời văn hoá Happara. Tại lưu vực sông Ên đã phát hiện tới trên 3000 con dấu khắc chữ đồ hoạ. Đây là một loại chữ dùng hình vẽ để ghi âm và ghi vần. Loại chữ này được viết từ phải sang trái. Điều đặc biệt là các con dấu này được đóng trên các kiện hàng để xác nhận 9 Nguyễn Thị Dung Lịch sử văn minh thế giới hàng hoá, chứng tỏ nền kinh tế, đặc biệt là việc trao đổi hàng hoá đã rất phát đạt. Chi tiết đó càng chứng tỏ kinh tế chính là điều kiện làm nên văn minh nh đã phân tích ở trên. Đến thế kỉ V TCN thì xuất hiện một loại chữ, đó là Kharosthi, phỏng theo chữ của vùng Lưỡng Hà. Sau đó xuất hiện chữ Brami được sử dụng rộng rãi, đặc biệt trên bia mộ của Axôca. Trên cơ sở chữ Brami, người Ên Độ đã đặt lại chữ Đêvanagari có cách viết thuận tiện hơn. Loại chữ này còn được dùng tới ngày nay tại Ên Độ và Nêpan. 2. Văn học Trong cuộc sống sinh hoạt, đấu tranh sinh tồn, chống thiên tai và chống xâm lấn, nền văn học Ên Độ đã ra đời và có nhiều thành tựu đáng kể. Hai bộ phận quan trọng của văn học là sử thi và Vêđa. a/ Vêđa Thông qua hình thức các bài ca và những bài cầu nguyện, các tập của Vêđa không những phản ánh bối cảnh xã hội Ên Độ ở thời kì tan rã của chế độ công xã thị téc, hình thành một xã hội có giai cấp và nhà nước mà còn là bức tranh về cuộc sống của cư dân Ên Độ ở thời điểm đó. Đó là nội dung của 3 tập đầu tiên Rích Vêđa, Xama Vêđa và Yagiua Vêđa. Còn tập cuối cùng là Atacva Vêđa lại đề cập đến một lĩnh vực khác, đó là chế độ đẳng cấp, việc hành quân hay cả một số mặt của đời sống xã hội. Và sau 4 tập kinh Vêđa là một số tác phẩm viết bằng văn xuôi, tuy nhiên không có nhiều giá trị. b/ Sử thi Có hai bộ sử thi rất nổi tiếng đó là Mahabharata và Ramayana. Đây là hai bộ sử thi đồ sộ được truyền miệng từ nửa đầu thiên niên kỉ I TCN rồi được chép lại bằng khẩu ngữ. -Mahabharata nghĩa là cuộc chiến tranh giữa con cháu Bharata là bộ sử thi dài nhất thế giới gồm có 18 chương và một chương bổ sung tài liệu, gồm 10 [...]... thần của cư dân Ên Độ, ảnh hưởng và chi phối tình hình chính trị – xã hội của Ên Độ Đây là một trong những thành tựu đáng kể nhất trong nền văn minh cổ trung đại Ên Độ 17 Nguyễn Thị Dung giới Lịch sử văn minh thế KẾT LUẬN Tóm lại, những thành tựu của nền văn minh cổ trung đại Ên Độ là cực kì phong phú và nổi bật Những nét văn hoá trong nền văn minh đó vừa mang những nét chung của văn hoá Á Đông, vừa... định hình những bản sắc riêng của văn hoá Ên Độ Những thành tựu đó có thể vẫn đang tồn tại hoặc cũng có thể đã không còn, nhưng chúng vẫn vẹn nguyên sự vô giá đối với lịch sử hiện đại của Ên Độ và đối với loài người 18 Nguyễn Thị Dung giới Lịch sử văn minh thế TÀI LIỆU THAM KHẢO 1 Amalnach những nền văn minh thế giới, NXB văn hóa thông tin, Hà nội, 1995 2 Đặng Đức An Chủ biên, Lịch sử thế giới cổ đại, ... NXBGD, 1995 3 Lê Phụng Hoàng Chủ biên, Lịch sử văn minh thế giới, NXBGD, 1999 4 Lê Phụng Hoàng, Hà Bích Liên, Trần Hồng Ngọc, Các công trình kiến trúc nổi tiếng trong lịch sử thế giới cổ- trung đại, NXBGD, 1999 5 Lương Ninh Chủ biên, Lịch sử văn hóa thế giới cổ trung đại, NXBGD 6 Lương Ninh Chủ biên, Lịch sử thế giới cổ đại, NXBGD,1995 7 Vò Dương Ninh Chủ biên, Lịch sử văn minh thế giới, NXBGD 19... chỉ có Ksatơrya và Vaisya được trở thành tín đồ của đạo Blamôn và đều được sinh ra hai lần Còn Suđra chỉ được sinh có một lần và không được dự những buổi lễ tôn giáo b/ Sự hình thành và giáo lí của đạo Hinđu 15 Nguyễn Thị Dung giới Lịch sử văn minh thế - Sự hình thành Thế kỉ IV, đạo Phật xuất hiện ở Ên Độ, đạo Bàlamôn bị suy thoái Cho tới thế kỉ VII, đạo Phật lại bị suy sụp Nhân tình hình đó thì đạo... nhận 3 Về thiên văn học Người Ên Độ từ thời cổ đại đã tính ra rằng một năm có 12 tháng, một tháng có 30 ngày, một ngày có 30 giê và cứ 5 năm thì lại có một năm nhuận Do yêu cầu của cuộc sống sản xuất nông nghiệp nên cư dân cổ Ên Độ sớm có những quan sát bầu trời và vũ trụ và tính toán, cho dù những tính toán đó có thể là chưa chính xác Tuy nhiên việc họ cho rằng Trái Đất và Mặt Trăng hình cầu là hoàn... Độ đã tính được sè π bằng 3,1416 Họ cũng đã phát minh ra được đại số học Còn trong hình học họ biết tính diện tích hình vuông, hình chữ nhật, hình tam giác, đa giác, tính được quan hệ giữa các cạnh trong tam giác vuông Có thể nói toán học xuất hiện từ bản thân cuộc sống của cư dân Ên Độ cổ đại và đến lượt nó toán học đã ứng dụng thiết thực vào chính nhu cầu của cuộc sống đó 5 Về vật lí học Phát minh. .. ra, từ những thế kỉ 5 - 4 TCN người Ên Độ đã biết cách chắp xương sọ, mổ bụng lấy thai, lấy sỏi thận với hàng trăm thứ thuốc thảo méc Ngoài những ngành khoa học trên đây, người Ên Độ còn có những hiểu biết về các lĩnh vực nh hoá học, sinh học, nông học nghệ thuật Cuộc sống phong phú cùng với sự giao lưu văn hoá đã làm nên những nét đặc sắc của kiến trúc, điêu khắc của nền văn minh Ên Độ Kiến... khoa học kiêm triết học người Ên Độ Trường phái triết học Vaisêsica cho rằng vạn vật đều do nguyên tử tạo nên, vật chất khác nhau là do nguyên tử khác nhau Ngoài ra người Ên Độ cũng đã biết đến sức hót của quả Đất Đây rõ ràng là những nhận thức ban đầu rất quan trọng, đặt nền móng cho các ngành vật lí học về sau 6 Về y dược học Ên Độ cổ đại đã có nhiều thành tựu rất lớn và sớm hơn nhiều so với các nước... kỉ VIII và IX, đạo Bàlamôn có bổ sung thêm nhiều yếu tố mới và từ đó được gọi là đạo Hinđu, hay còn gọi là Ên Độ giáo - Giáo lí Đạo Hinđu ra đời trên cơ sở đạo Bàlamôn nên về cơ bản nội dung tư tưởng của nó không có nhiều thay đổi Đối tượng sùng bái của đạo Hinđu vẫn là 3 vị thần Brama, Siva và Visnu Có khác chăng là quan niệm về các vị thần này đã rõ ràng và sâu sắc hơn Đạo Hinđu cũng chia thành hai... Lan, Inđônêxia - Đến khoảng năm 100 sau công nguyên, đạo Phật triệu tập đại hội và thông qua giáo lí của đạo Phật cải cách bằng phái Đại thừa Sau đại hội này, đạo Phật lại tiếp tục được truyền bá mạnh ở Trung Á, Trung Quốc và trở thành quốc giáo của Xrilanca, Mianma, Thái Lan, Campuchia, Lào Ngoài đạo Hinđu và đạo Phật, ở Ên Độ còn tồn tại một số tôn giáo khác nh đạo Jain, đạo Xích Thực sự tôn giáo . TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI KHOA LỊCH SỬ BÀI TẬP ĐIỀU KIỆN BỘ MÔN LỊCH SỬ VĂN MINH THẾ GIỚI ĐỀ TÀI NỀN VĂN MINH CỔ TRUNG ĐẠI ÊN ĐỘ CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ NHỮNG THÀNH TỰU CHỦ YẾU Họ và tên. Ên Độ. Đây là một trong những thành tựu đáng kể nhất trong nền văn minh cổ trung đại Ên Độ. 17 Nguyễn Thị Dung Lịch sử văn minh thế giới KẾT LUẬN Tóm lại, những thành tựu của nền văn minh cổ. nền văn minh cổ trung đại Ên Độ. II/ Điều kiện kinh tế Kinh tế thời cổ trung đại Ên Độ vừa là điều kiện để hình thành nên các giá trị của nền văn minh Ên Độ vừa là biểu hiện của nền văn minh - Xem thêm -Xem thêm tiểu luận nền văn minh cổ trung đại ấn độ cơ sở hình thành và những thành tựu chủ yếu, tiểu luận nền văn minh cổ trung đại ấn độ cơ sở hình thành và những thành tựu chủ yếu,

tiểu luận về nền văn minh trung quốc